Chào mừng quý vị đến với (¯`·.º-:¦:- Hóa học phổ thông - Trang thông tin, tư liệu học tập Hóa học-:¦:-º.·´¯).
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Search google
Hãy sử dụng chức năng này để truy cập nhanh
hơn!
Tập san tự nhiên

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đồng Đức Thiện (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:29' 14-05-2008
Dung lượng: 653.0 KB
Số lượt tải: 34
Nguồn:
Người gửi: Đồng Đức Thiện (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:29' 14-05-2008
Dung lượng: 653.0 KB
Số lượt tải: 34
Số lượt thích:
0 người
GV: Nguyễn quang hùng
Dạy học tự chọn ở trường THPT
Cùng với phân ban, dạy học tự chọn cũng là một hình thức phân hoá dạy học được thực hiện ở trường THPT. Hình thức dạy học này được thể hiện qua các chuyên đề tự chọn.
Phân ban và dạy học tự chọn là hai hình thức phân hoá dạy học tồn tại lâu dài và bền vững trong việc thiết kế các chương trình và kế hoạch dạy học ở bậc trung học của hầu hết các nước trên thế giới.
Dạy học tự chọn đã trở thành hình thức dạy học chính thức trong chương trình THPT của ta hiện nay.
1 – Mục tiêu của chương trình tự chọn THPT
- Bổ sung và khai thác sâu chương trình các môn học bắt buộc của các ban khác nhau, góp phần làm cho việc phân ban được đậm nét hơn, đồng thời cung cấp một số nội dung mới theo yêu cầu của người học và cộng đồng.
- Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng học tập của các đối tượng HS khác nhau.
- Tăng cường rèn luyện tích cực, tự giác và nhất là khả năng tự học của HS.
2 – Nguyên tắc xây dựng chương trình tự chọn
Chương trình tự chọn (CTTC) được xây dựng dưới hình thức một tập hợp các “chuyên đề”. Ngoài việc phải tuân thủ các nguyên tắc chung của việc xây dựng chương trình các môn học bắt buộc, việc xây dựng CTTC còn phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Bảo đảm tính mục tiêu riêng biệt của dạy học tự chọn.
- Bảo đảm tính liên thông giữa CTTC với chương trình bắt buộc.
- Có tính mềm dẻo cao để có thể vận dụng một cách linh hoạt cho các đối tượng khác nhau trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, có thể thay đổi theo các giai đoạn phát triển khác nhau của giáo dục và đào tạo.
- Có tính thiết thực cao, gây được hứng thú cho HS.
- Các chuyên đề có tính độc lập tương đối với nhau để tạo điều kiện cho HS có thể dễ dàng lựa chọn tùy theo năng lực và nguyện vọng cá nhân.
3 – Nguyên tắc xây dựng các chuyên đề: Có 3 loại chuyên đề chính sau đây:
a) Chuyên đề cơ bản: Giúp HS đạt mặt bằng chuẩn nắm được kiến thức và kĩ năng cơ bản nhất của chương trình THPT. Chuyên đề cơ bản chủ yếu gồm các chuyên đề tổng kết, hệ thống hoá và củng cố kiến thức đã học, rèn kĩ năng vận dụng kiến thức để giải các bài tập. Các chuyên đề này tập trung vào các nội dung khó, phức tạp và các nội dung trọng tâm của chương trình mà HS chưa nắm được qua các tiết học bắt buộc.
Loại này dành cho các HS trung bình và dưới trung bình.
b) Chuyên đề nâng cao: Giúp HS hiểu rộng hơn, sâu hơn nội dung của CT bắt buộc, tạo điều kiện cho HS có thể phát huy được năng lực của mình, chuẩn bị tiềm năng cho việc tiếp tục học lên theo những định hướng ngành nghề đã lựa chọn. Loại này dành cho các HS trên TB.
c) Chuyên đề ứng dụng: Đây là các chuyên đề cung cấp những nội dung mới, nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cuộc sống và nguyện vọng của cá nhân HS. Những chuyên đề này có nội dung rất đa dạng, có thể gắn với một, hai hoặc nhiều môn học, có thể chỉ có tính hướng nghiệp nhưng cũng có thể có tính nghệ nghiệp cụ thể, có thể gắn với những đặc điểm của một vùng rộng lớn nhưng cũng có thể chỉ gắn với những đặc điểm của một địa phương hẹp; có thể đề cập đến những vấn đề trước mắt của cuộc sống, nhưng cũng có thể đề cập đến những nội dung cần thiết cho tương lai …
Loại này dành cho mọi đối tượng HS.
4 – Cấu trúc của một chuyên đề
Mỗi chuyên đề đều có các mục sau đây:
- Mục tiêu: Có địa chỉ rõ ràng cho từng loại chuyên đề.
- Điều kiện học tập: Nêu rõ các điều kiện cần thiết để học chuyên đề, bao gồm phương tiện và thiết bị cần chuẩn bị, tài liệu tham khảo ; thời gian dành cho việc học chuyên đề.
- Hướng dẫn cách học: Trình bày các phương pháp có thể dùng để học chuyên đề trong đó đề cao phương pháp tự học.
- Nội dung: Nội dung của chuyên đề có thể được trình bày theo cấu trúc.
+ Cung cấp thông tin.
+ Xử lí thông tin và rút ra kết luận.
+ Vận dụng.
- Tự đánh giá: Các bài tập và câu hỏi giúp HS tự đánh giá kết quả học tập.
Vai trò của sách giáo khoa đối với việc dạy học ở trường phổ thông
1 – Quan niệm về sách giáo khoa
Sách giáo khoa (SGK)là tài liệu nhằm cụ thể hoá chương trình môn học qua một hệ thống các bài học.
Đối với học sinh, SGK không chỉ có chức năng cung cấp những kiến thức, kĩ năng chuẩn mực và cần thiết mà còn góp phần hướng dẫn phương pháp học tập, củng cố những kiến thức đã học và tạo điều kiện phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện tư duy, logic, độc lập và sáng tạo.
Đối với giáo viên, SGK là tài liệu thể hiện khối lượng và mức độ nội dung kiến thức, đồng thời góp phần hướng dẫn cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm đạt mục tiêu bài học.
Đối với ngành giáo dục và cả xã hội thì SGK là căn cứ để đánh giá kết quả dạy học nói chung và kết quả học tập thi cử nói riêng của học sinh.
Đối với khoa học giáo dục và khoa học tâm lí, SGK là một đối tượng nghiên cứu quan trọng. SGK được coi là công trình nghiên cứu khoa học giáo dục.
Đối với thế giới, SGK là công cụ giao lưu quốc tế trong thời đại toàn cầu hoá.
2 – Vai trò của sách giáo khoa
SGK đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục, nó sẽ phát huy tác dụng tích cực thông qua hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của các điều kiện và phương tiện dạy học.
SGK các môn ở trường phổ thông có những vai trò chủ yếu sau:
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng cơ bản, hiện đại, thiết thực và có hệ thống theo những qui định trong chương trình.
- Góp phần hình thành cho học sinh phương pháp học tập tích cực, khả năng tự học, tự nghiên cứu môn học. SGK là tài liệu quan trọng nhất để học sinh tự học, tự tiếp thu tri thức cần thiết cho bản thân.
- Tạo điều kiện cho học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá kiến thức, kĩ năng, tự khẳng định khả năng của mình đối với môn học.
- Góp phần chủ yếu trong nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và nhân cách cho học sinh.
- Chuẩn bị và tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học lên hoặc vào các trường học nghề hoặc trực tiếp vào đời tham gia các hoạt động của đời sống xã hội.
3 – Chức năng của sách giáo khoa
Sách giáo khoa có những chức năng chủ yếu sau đây:
a) Đối với học sinh
- Cung cấp thông tin bao gồm những sự kiện, hiện tượng cụ thể, những khái niệm, những định luật, những qui tắc, những lí thuyết của bộ môn.
- Phát triển những kĩ năng làm bài tập, thực hành thí nghiệm, kĩ năng lao động … Hình thành và phát triển ở học sinh phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học, thu thập thông tin và xử lí thông tin …
- Củng cố, vận dụng những hiểu biết trong những tình huống khác nhau của thực tiễn, nhằm đảm bảo sự bền vững và tính hiệu quả của kiến thức và kĩ năng cho bản thân.
- Tra cứu, tham khảo: SGK được coi là một công cụ tin cậy, có tính thuyết phục cao đối với HS, giúp cho HS tìm kiếm được những thông tin chính xác, phù hợp với lứa tuổi, với trình độ hiện tại của HS.
- Về mặt văn hoá, xã hội nhằm hình thành, phát triển ở học sinh khả năng ứng xử, có hành vi văn minh, giúp họ ý thức được vị trí của mình trong gia đình, nhà trường và xã hội.
- SGK giúp học sinh liên kết những kiến thức kĩ năng đã học với cuộc sống và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân, gia đình và cộng đồng.
b) Đối với giáo viên
- Qui định phạm vi và mức độ kiến thức kĩ năng mà giáo viên cần phải chuyển tải đến học sinh.
- Giúp giáo viên có phương hướng hành động trong việc tổ chức các hoạt động dạy học và khơi gợi, phát huy khả năng tự học của học sinh.
- Hỗ trợ cho giáo viên trong việc thế kế giáo án, tiến hành bài học, tổ chức điều khiển lớp học, đánh giá học sinh.
Như vậy, SGK có tính chất đa năng, có tác dụng nhiều mặt. Vì vậy SGK có vai trò chủ yếu và quan trọng nhất trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường PT.
4 – Về sách giáo khoa đổi mới
SGK mới đã được biên soạn theo những định hướng sau:
- Góp phần vào việc thực hiện mục tiêu: đức, trí, thể, mĩ, các kĩ năng cơ bản, hướng nghiệp.
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học: Cách trình bày, cấu trúc bài học, cấu trúc SGK phải giúp học sinh biết cách tự học và hợp tác với bạn trong học tập tích cực, chủ động, sáng tạo trong phát hiện và giải quyết vấn đề để tự chiếm lĩnh tri thức mới, giúp học sinh biết tự đánh giá kết quả học sinh của bản thân.
- Nội dung sách đã bảo đảm tính khoa học, cơ bản chính xác, tinh giản, thiết thực và cập nhật phù hợp với sự phát triển của khoa học – công nghệ, kinh tế – xã hội.
- Có sự hài hoà và thống nhất cao giữa cấu trúc, nội dung, phương pháp và hình thức trình bày với tính đa dạng linh hoạt ở các nội dung cụ thể nhằm giúp học sinh vừa thuận lợi trong việc sử dụng sách vừa phát triển được khả năng tư duy sáng tạo.
- Mức độ nội dung phải phù hợp với trình độ phát triển chung của số đông học sinh, bảo đảm tính khả thi trong điều kiện đa dạng của đất nước.
- Phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của từng ban và góp phần phát hiện, bồi dưỡng như
 













Các ý kiến mới nhất