Chào mừng quý vị đến với (¯`·.º-:¦:- Hóa học phổ thông - Trang thông tin, tư liệu học tập Hóa học-:¦:-º.·´¯).
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Search google
Hãy sử dụng chức năng này để truy cập nhanh
hơn!
SỨC KHỎE LÀ TẤT CẢ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: SƯU TẦM
Người gửi: Hoàng Văn Liên (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:22' 24-10-2009
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 53
Nguồn: SƯU TẦM
Người gửi: Hoàng Văn Liên (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:22' 24-10-2009
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 53
Số lượt thích:
0 người
PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP
“VẨY TAY ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH”
Môn thể dục này giúp ta tăng cường sức khỏe, chữa bệnh, khai thông đốc mạch, dồn điển lên bộ đầu, và giúp cho phần luyện đạo được nhẹ nhàng hơn. Ta có thể thức hành bất cứ lúc nào trong ngày, khi bụng rỗng hay trước khi luyện công phu trong đêm khuya.
TRƯỚC HẾT NÓI VỀ TINH THẦN: phải có hào khí: nghĩa làcó quyết tâm tập cho đến nơi và đều đặn, kiên nhẫn vững vàng tin tưởng, không nghe lời bàn ra tán vào mà chán nản bỏ dở.
TƯ THẾ: “Trên không, dưới có, lên ba, xuống bảy”
Đứng thẳng, ngực ưỡn, hai bàn chân dạng ra song song và rộng bằng vai của mình. Co các đầu ngón chân lại, bấm vào mặt thảm hay chiếu. Lưỡi co lại, đầu lưỡi chạm nhẹ vào nướu và chân răng cửa hàm trên. Miệng ngậm, răng kề răng (răng cửa hàm trên và hàm dưới chạm nhẹ vào nhau). Mắt nhắm, nhìn thẳng về phía trước, từ “ấn đường” tức điểm giữa hai đầu lông mày. Nếu mở mắt ra thì mắt hường vào một điểm nào đó trước mặt – nhưng mắt nhắm. Hơi thở bình thường. Tư tưởng tập trung trên đỉnh đầu, có thể niệm “lục tự di đà”.
Đầu nên lơ lửng, miệng không hoạt động, bụng phải mềm, lưng nên thẳng, thắt lưng mềm dẻo.
ĐỘNG TÁC: hai cánh tay đưa song song ra phía trước, tay và đường thẳng đứng của thân làm thành một góc 30o. Cánh tay duỗi thẳng, cổ tay cong ngoắt lên trên, ngón tay hướng về phí trước. Rồi từ từ đưa hai cánh tay song song về phía sau đến hết mức và cụp bàn tay len, lòng bàn tay ngửa hướng lên trên. Động tác thật chậm rãi, dịu dàng và nhẹ nhàng.
Cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay trầm, bàn tay quay lại phía sau, ngón xòe như cái quạt.Khi vẫy tay, lỗ đít phải thót, bụng dưới thót, gót chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân phải cứng, các ngón chân bấm chặt như đứng trên đất trơn. Đây là những qui định cụ thể của các yếu lĩnh khi luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh”.
Dựa trên yêu cầu này, khi tập vẫy tay, thì từ cơ hoành trở lên phải giữ cho được trống không, buông lỏng thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào việc tập, xương cổ cần buông lỏng để cho có cảm giác như đầu treo lơ lửng, miệng giữ tự nhiên (không mím môi), ngực nên buông lỏng để cho phổi thở tự nhiên, cánh tay buông tự nhiên, giống như hai mái chèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc, đủ sức căng, bụng dưới thot vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bám chặt vào mặt đất, giữ cho đùi và bắp chân trong trạng thái căng thẳng, xương mông thẳng thẳng như cây gỗ.
Khi vẩy tay cần nhớ “lên không, xuống có”, nghĩa là lấy sức vẩy tay về phía sau, khi tay trở lại phía trước là do quán tính, không dùng sức để đưa tay ra phía trước.
Mắt nhìn thẳng, đầu không nghĩ ngợi gì, chỉ nhẩm đếm số lần vẫy tay.
THỜI LƯỢNG: tập như vậy khoảng 15 đến 30 phút. Có thể làm nhiều lần trong một ngày.
CÁC THAO TÁC TẬP CỤ THỂ
Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay quay về phía trước.
Bụng dưới thót lại, lưng thẳng, bụng trên co lên, cổ lỏng, đầu và miệng trong trạng thái bình thường.
Các ngón chân bám chặt mặt đất, gót chân sát đất, bắp chân và đùi căng thẳng.
Hai mắt chọn một điểm đàng xa để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào ngón chân bám, đùi vế chắc, lỗ đít thót và nhẩm đếm.
Dùng sức vẫy tay về phía sau, để hai tay trở lại phía trước theo quán tính, tuyệt đối không dùng sức, chân vẫn lên gân, hậu môn co lên không lồi.
Vẩy tay từ 300-400-500-600 dần dần lên tới 1000 cái mỗi lần trong khoảng 30 phút.
Phải có quyết tâm tập đều đặn, lần vẫy tay dần dần tăng lên không miễn cưỡng vì “dục tốc bất đạt”, nhưng cũng không tùy tiện bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ tập, vì thế dễ làm mất lòng tin trong việc luyện tập, như vậy khó có kết quả.
Bắt đầu luyện tập cũng không nên dùng hết sức làm tổn thương các ngón chân. Sau buổi tập nên vân vê các ngón chân, tay, mỗi ngón chín lần.
Nôn nóng mong muốn khỏi bệnh ngay mà dùng quá sức cũng không đưa lại kết quả mong muốn.
“VẨY TAY ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH”
Môn thể dục này giúp ta tăng cường sức khỏe, chữa bệnh, khai thông đốc mạch, dồn điển lên bộ đầu, và giúp cho phần luyện đạo được nhẹ nhàng hơn. Ta có thể thức hành bất cứ lúc nào trong ngày, khi bụng rỗng hay trước khi luyện công phu trong đêm khuya.
TRƯỚC HẾT NÓI VỀ TINH THẦN: phải có hào khí: nghĩa làcó quyết tâm tập cho đến nơi và đều đặn, kiên nhẫn vững vàng tin tưởng, không nghe lời bàn ra tán vào mà chán nản bỏ dở.
TƯ THẾ: “Trên không, dưới có, lên ba, xuống bảy”
Đứng thẳng, ngực ưỡn, hai bàn chân dạng ra song song và rộng bằng vai của mình. Co các đầu ngón chân lại, bấm vào mặt thảm hay chiếu. Lưỡi co lại, đầu lưỡi chạm nhẹ vào nướu và chân răng cửa hàm trên. Miệng ngậm, răng kề răng (răng cửa hàm trên và hàm dưới chạm nhẹ vào nhau). Mắt nhắm, nhìn thẳng về phía trước, từ “ấn đường” tức điểm giữa hai đầu lông mày. Nếu mở mắt ra thì mắt hường vào một điểm nào đó trước mặt – nhưng mắt nhắm. Hơi thở bình thường. Tư tưởng tập trung trên đỉnh đầu, có thể niệm “lục tự di đà”.
Đầu nên lơ lửng, miệng không hoạt động, bụng phải mềm, lưng nên thẳng, thắt lưng mềm dẻo.
ĐỘNG TÁC: hai cánh tay đưa song song ra phía trước, tay và đường thẳng đứng của thân làm thành một góc 30o. Cánh tay duỗi thẳng, cổ tay cong ngoắt lên trên, ngón tay hướng về phí trước. Rồi từ từ đưa hai cánh tay song song về phía sau đến hết mức và cụp bàn tay len, lòng bàn tay ngửa hướng lên trên. Động tác thật chậm rãi, dịu dàng và nhẹ nhàng.
Cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay trầm, bàn tay quay lại phía sau, ngón xòe như cái quạt.Khi vẫy tay, lỗ đít phải thót, bụng dưới thót, gót chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân phải cứng, các ngón chân bấm chặt như đứng trên đất trơn. Đây là những qui định cụ thể của các yếu lĩnh khi luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh”.
Dựa trên yêu cầu này, khi tập vẫy tay, thì từ cơ hoành trở lên phải giữ cho được trống không, buông lỏng thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào việc tập, xương cổ cần buông lỏng để cho có cảm giác như đầu treo lơ lửng, miệng giữ tự nhiên (không mím môi), ngực nên buông lỏng để cho phổi thở tự nhiên, cánh tay buông tự nhiên, giống như hai mái chèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc, đủ sức căng, bụng dưới thot vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bám chặt vào mặt đất, giữ cho đùi và bắp chân trong trạng thái căng thẳng, xương mông thẳng thẳng như cây gỗ.
Khi vẩy tay cần nhớ “lên không, xuống có”, nghĩa là lấy sức vẩy tay về phía sau, khi tay trở lại phía trước là do quán tính, không dùng sức để đưa tay ra phía trước.
Mắt nhìn thẳng, đầu không nghĩ ngợi gì, chỉ nhẩm đếm số lần vẫy tay.
THỜI LƯỢNG: tập như vậy khoảng 15 đến 30 phút. Có thể làm nhiều lần trong một ngày.
CÁC THAO TÁC TẬP CỤ THỂ
Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay quay về phía trước.
Bụng dưới thót lại, lưng thẳng, bụng trên co lên, cổ lỏng, đầu và miệng trong trạng thái bình thường.
Các ngón chân bám chặt mặt đất, gót chân sát đất, bắp chân và đùi căng thẳng.
Hai mắt chọn một điểm đàng xa để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào ngón chân bám, đùi vế chắc, lỗ đít thót và nhẩm đếm.
Dùng sức vẫy tay về phía sau, để hai tay trở lại phía trước theo quán tính, tuyệt đối không dùng sức, chân vẫn lên gân, hậu môn co lên không lồi.
Vẩy tay từ 300-400-500-600 dần dần lên tới 1000 cái mỗi lần trong khoảng 30 phút.
Phải có quyết tâm tập đều đặn, lần vẫy tay dần dần tăng lên không miễn cưỡng vì “dục tốc bất đạt”, nhưng cũng không tùy tiện bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ tập, vì thế dễ làm mất lòng tin trong việc luyện tập, như vậy khó có kết quả.
Bắt đầu luyện tập cũng không nên dùng hết sức làm tổn thương các ngón chân. Sau buổi tập nên vân vê các ngón chân, tay, mỗi ngón chín lần.
Nôn nóng mong muốn khỏi bệnh ngay mà dùng quá sức cũng không đưa lại kết quả mong muốn.
 













Các ý kiến mới nhất